Bất bình đằng ‘ngược’ giữa nhà đầu tư tại Dự luật Giáo dục đại học

VCCI góp ý về Dự thảo Luật Giáo dục đại học - ảnh: Báo Hải Quan
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng việc cho phép cơ sở giáo dục đại học có từ 51% vốn của nhà đầu tư nước ngoài trở lên được tự quyết định cơ cấu tổ chức, trong khi đó các trường đại học tư thục khác lại không được, dường như chưa hợp lý, gây bất bình đẳng và không rõ mục tiêu quản lý.

Phân biệt đối xử?

Góp ý Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục đại học, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết quy định tại khoản 8 Điều 1 Dự thảo Cơ sở giáo dục đại học có từ 51% vốn của nhà đầu tư nước ngoài trở lên được tự quyết định cơ cấu tổ chức; có cơ cấu tổ chức tương tự như đại học tư thục có/không có lợi nhuận. Như vậy có thể thấy, cơ cấu tổ chức của trường đại học sẽ được quyết định dựa vào nguồn gốc vốn chủ sở hữu.

Xét bản chất thì hai loại cơ sở giáo dục này đều có nguồn gốc vốn từ tư nhân chỉ khác về quốc tịch của chủ sở hữu vốn (là nhà đầu tư nước ngoài hay nhà đầu tư trong nước). Theo quy định của pháp luật đầu tư và doanh nghiệp, nguồn gốc vốn sở hữu không phải là căn cứ để phân biệt về cơ cấu tổ chức hay hình thức hoạt động, các nhà đầu tư khi đầu tư dưới dạng thành lập tổ chức đều phải tuân theo cơ cấu tổ chức như nhau tương ứng với loại hình doanh nghiệp đã lựa chọn.

Trên thực tế, pháp luật liên quan tới doanh nghiệp nếu có phân biệt giữa nhà đầu tư nước ngoài và trong nước thì chỉ phân biệt ở điều kiện về tỷ lệ vốn (nhà đầu tư nước ngoài có thể bị giới hạn ở tỷ lệ vốn nhất định phù hợp với cam kết quốc tế) và hoạt động được phép (cơ sở của nhà đầu tư nước ngoài có thể bị giới hạn ở một số hoạt động).

Hơn nữa, trong mọi trường hợp thì quyền của nhà đầu tư trong nước cũng rộng hơn hoặc ít nhất là bằng quyền của nhà đầu tư nước ngoài, với mục tiêu chính sách là để bảo hộ hợp lý nhà đầu tư trong nước hoặc vì các lý do an ninh quốc phòng trật tự xã hội nhất định. Chưa có trường hợp nào hạn chế quyền của nhà đầu tư trong nước hơn so với nhà đầu tư nước ngoài (trừ một số dịch vụ rất đặc thù như casino…).

Vì vậy, để đảm bảo tính hợp lý, VCCI đề nghị Ban soạn thảo sửa đổi quy định theo hướng không phân biệt đối xử về cơ cấu tổ chức bắt buộc giữa các trường đại học tư thục (không phân biệt về nguồn gốc vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài hay nhà đầu tư trong nước)..

VCCI cũng cho rằng, theo quy định tại Dự thảo thì trường đại học tư thục hoạt động không vì lợi nhuận, không có đại hội đồng cổ đông như trường tư thục vì lợi nhuận. Trong khi đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Dự thảo thì sự khác nhau giữa hai trường đại học tư thục này chỉ là ở việc sử dụng phần lợi nhuận có được từ hoạt động đào tạo.

“Với tiêu chí phân biệt như vậy mà quy định trường tư thục hoạt động không vì lợi nhuận không có đại hội đồng cổ đông trong khi trường hoạt động vì lợi nhuận có cơ quan này dường như chưa hợp lý”, VCCI nêu.

Bên cạnh đó, Đại hội đồng cổ đông được xem là bộ phận có quyền lực nhất với thẩm quyền quyết định các vấn đề quan trọng nhất của trường chứ không chỉ riêng việc quyết định phân chia lợi nhuận. Dù trường đại học hoạt động không vì lợi nhuận không phải quyết định về việc phân chia lợi nhuận thì vẫn cần có tổ chức tập hợp/đại diện các cổ đông để quyết định về các vấn đề quan trọng khác của trường.

Do đó, để đảm bảo tính hợp lý, đề nghị Ban soạn thảo sửa đổi quy định, cơ cấu tổ chức của tổ chức đại học tư thục là như nhau, không phân biệt vì mục đích lợi nhuận hay không.

Băn khoăn mô hình tổ chức của đại học tư thục

Về mô hình tổ chức của trường đại học tư thục, Dự thảo quy định trường đại học tư thục hoạt động vì lợi nhuận có cơ cấu tổ chức tương tự như một công ty cổ phần, bao gồm các bộ phận như: đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, ban kiểm soát. Tuy nhiên, trường không phải là công ty cổ phần hoạt động theo Luật doanh nghiệp, mà là chủ thể hoạt động theo Luật này.

VCCI cho rằng cách tiếp cận này dường như là chưa hợp lý bởi xét về bản chất, hoạt động của trường là một “sản phẩm” dịch vụ có lợi nhuận của các chủ sở hữu đã bỏ vốn. Như vậy đối với chủ sở hữu (cổ đông bỏ vốn thành lập trường) thì đây là một hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận, do đó việc quản lý, kiểm soát phải tương tự như việc tổ chức của một doanh nghiệp.

Tuy nhiên, đối với giảng viên, học viên thì đây là cơ sở đào tạo chuyên môn, do đó hoạt động quản trị lại phải đảm bảo tính chuyên môn của ngành giáo dục, tức là theo mô hình một trường đại học (có hội đồng trường, Ban giám đốc, văn phòng, các khoa…).

Do không phân biệt 2 chủ thể này (một là doanh nghiệp, một là trường – sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp) nên Dự thảo hiện thiết kế cơ cấu tổ chức trường đại học vì lợi nhuận bao gồm cả 2 nhóm này (tức là có hệ thống các bộ phận như một công ty cổ phần, đồng thời lại có một hệ thống các bộ phận chuyên môn như một trường đại học).

Điều này khiến cơ cấu một trường đại học cồng kềnh, phức tạp, rất khó có thể phân biệt được mối quan hệ (điều hành/phụ thuộc/kiểm soát…) giữa các bộ phận thuộc 2 hệ thống này với nhau.

Vì vậy, VCCI đề nghị ban soạn thảo cân nhắc điều chỉnh thay đổi hoàn toàn cách tiếp cận theo hướng cho phép chủ sở hữu thành lập doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp như thông thường, sau đó triển khai các hoạt động thành lập trường đại học theo Luật này.

Trường hợp vẫn giữ cách tiếp cận hiện tại (mỗi nhóm chủ sở hữu phải gắn chặt, không tách rời với trường đại học mà họ sở hữu, áp dụng thiết chế tổ chức hai hệ thống đồng thời) thì cần bổ sung quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ của Đại hội đồng cổ đông, Ban kiểm soát.

Dự thảo sửa đổi quy định về tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục, nhưng VCCI cho rằng Dự thảo chưa làm rõ các vấn đề như các tổ chức tư nhân có quyền tham gia vào hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục không? Để được thực hiện thì các loại thủ tục nào và có giấy phép nào? Điều kiện về “đề án thành lập phù hợp với quy định về hệ thống tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đại học” được hiểu như thế nào?...

Hoài Phong

BÌNH LUẬN BÀI VIẾT

Bình luận0


Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến.

Bạn đã gửi ý kiến cho bài viết này.